Chương trình đào tạo
Hình thức trình bày Đồ án, Khóa luận tốt nghiệp
Phụ lục 15.3 về Hình thức trình bày Đồ án, Khóa luận tốt nghiệp
PHỤ LỤC 15.3
Hình thức trình bày Đồ án, Khóa luận tốt nghiệp
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-ĐHM ngày tháng năm 2026
của Hiệu trưởng Trường Đại học Mở Hà Nội)
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
HÌNH THỨC TRÌNH BÀY ĐỒ ÁN, KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
- Cấu trúc Đồ án, Khóa luận tốt nghiệp (KLTN) gồm:
- Trang bìa và trang bìa phụ
- Lời cam đoan (nếu có)
- Mục lục
- Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt (nếu có)
- Danh mục các bảng biểu (nếu có)
- Danh mục các hình vẽ, đồ thị (nếu có)
- Mở đầu
- Các Chương, Mục
- Kết luận
- Danh mục công trình của tác giả (nếu có)
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
2. Ngôn ngữ để viết và trình bày Đồ án, Khóa luận tốt nghiệp (KLTN) là tiếng Việt hoặc tiếng Anh, Tiếng Trung (theo yêu cầu của chương trình đào tạo). KLTN viết và trình bày bằng tiếng Anh, tiếng Trung có thể có bản tóm tắt bằng tiếng Việt.
3. Hình thức trình bày: KLTN phải được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, sạch sẽ, không tẩy xóa, có đánh số trang, đánh số bảng biểu, hình vẽ, đồ thị, …
KLTN được in trên một mặt giấy A4 (210 x 297mm) và không vượt quá 80 trang (không kể phần phụ lục), trừ trường hợp đặc biệt do Trưởng Bộ môn và giảng viên hướng dẫn quyết định. Cỡ chữ Times New Roman 13 hoặc 14 của hệ soạn thảo Winword hoặc tương đương. Mật độ chữ bình thường, không nén hoặc kéo dãn khoảng cách giữa các chữ; dãn dòng đặt ở chế độ 1,5 lines; cách dòng 3pt; lề trên 2cm; lề dưới 2cm; lề trái 3,5cm; lề phải 2cm. Số trang được đánh ở giữa, phía cuối mỗi trang giấy.
Tất cả các chương, phần, mục, tiểu mục phải dùng chữ số tự nhiên, không dùng số La mã.
4. Mục lục và tiểu mục: Các tiểu mục của KLTN được trình bày và đánh số thành nhóm chữ số, nhiều nhất gồm bốn chữ số với số thứ nhất chỉ số chương (ví dụ: 1.2.3.1, chỉ tiểu mục 1, nhóm tiểu mục 3, mục 2, chương 1). Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất hai tiểu mục.
5. Viết tắt: Không lạm dụng việc viết tắt trong KLTN. Chỉ viết tắt những từ, cụm từ hoặc thuật ngữ được sử dụng nhiều lần trong KLTN. Không viết tắt những cụm từ dài, những mệnh đề; không viết tắt những cụm từ ít xuất hiện. Nếu cần viết tắt những từ thuật ngữ, tên các cơ quan, tổ chức … thì được viết tắt sau lần viết thứ nhất có kèm theo chữ viết tắt trong ngoặc đơn. Nếu KLTN có nhiều chữ viết tắt thì phải có bảng danh mục chữ viết tắt (xếp theo thứ tự ABC) ở phần đầu.
6. Phụ lục của KLTN: Phần này bao gồm nội dung cần thiết nhằm minh họa hoặc hỗ trợ cho nội dung như số liệu, mẫu biểu, tranh ảnh …, phụ lục không được dày hơn phần chính của KLTN.
Trường hợp dữ liệu ở phụ lục nếu in ra quá nhiều hoặc là loại dữ liệu không thể in được thì ghi vào đĩa CD/ DVD kèm theo quyển báo cáo và phải có bản in danh mục thư mục, file và ghi chú về nội dung thư mục, file phụ lục. Trên đĩa CD/ DVD ghi các thông tin: Khoa, ngành, tên đề tài, họ tên và mã SV thực hiện, họ tên người hướng dẫn, học kỳ thực hiện. ĐVĐT quy định cụ thể các chi tiết (nếu cần).
7. Cách trích dẫn và tài liệu tham khảo:
- Mọi ý kiến, khái niệm có ý nghĩa, mang tính chất gợi ý không phải của riêng tác giả và mọi tham khảo khác phải được trích dẫn và chỉ ra nguồn trong danh mục tài liệu tham khảo của KLTN.
Không trích dẫn những kiến thức đã trở nên phổ thông, mọi người đều biết, những chi tiết nhỏ, ý kiến cá nhân, kinh nghiệm chủ quan. Việc trích dẫn, tham khảo chủ yếu nhằm thừa nhận nguồn của những ý tưởng có giá trị giúp người đọc theo được mạch suy nghĩ của tác giả, không làm trở ngại việc đọc KLTN.
Nếu không có điều kiện tiếp cận được một tài liệu gốc mà phải trích dẫn thông qua một tài liệu khác thì phải nêu ra trích dẫn này, đồng thời tài liệu gốc đó không được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo của KLTN.
- Tài liệu tham khảo được xếp riêng theo từng ngôn ngữ (Việt, Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung, Nhật, …). Các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải giữ nguyên văn, không phiên âm, không dịch, kể cả bằng tiếng Trung Quốc, Nhật, … (đối với những tài liệu bằng ngôn ngữ ít người biết có thể thêm phần dịch tiếng Việt đi kèm theo mỗi tài liệu).
- Tài liệu tham khảo trong KLTN xếp theo thứ tự ABC họ tên tác giả theo thông lệ của từng nước: tác giả người nước ngoài xếp ABC theo họ; tác giả người Việt Nam xếp ABC theo tên nhưng vẫn giữ nguyên thứ tự thông thường của tên người Việt Nam, không đảo tên lên trước họ; tài liệu không có tên tác giả thì xếp thứ tự ABC từ đầu của tên cơ quan ban hành báo hay ấn phẩm.
- Tài liệu tham khảo là sách, luận văn, luận án, báo cáo phải ghi đầy đủ các thông tin: tên tác giả hoặc cơ quan ban hành (không có dấu ngăn cách); (năm xuất bản), (đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn); tên sách, luận văn, luận án hoặc báo cáo, (in nghiêng, dấu phẩy cuối tên); nhà xuất bản, (dấu phẩy cuối tên nhà xuất bản); nơi xuất bản (dấu chấm kết thúc tài liệu tham khảo).
- Tài liệu tham khảo là bài báo trong tạp chí, bài trong một cuốn sách, … ghi đầy đủ các thông tin sau: tên các tác giả (không có dấu ngăn cách); năm công bố, (đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn); “tên bài báo”, (đặt trong ngoặc kép, không in nghiêng, dấu phẩy cuối tên); tên tạp chí hoặc tên sách, (in nghiêng, dấu phẩy cuối tên); tập (không có dấu ngăn cách); (sổ), (đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn); các số trang (gạch ngang giữa hai chữ số, dấu chấm kết thúc).
- Việc trích dẫn theo số thứ tự của tài liệu ở danh mục tài liệu tham khảo và được đặt trong ngoặc vuông, khi cần có cả số trang, ví dụ [15, tr.134-136]. Đối với phần được trích dẫn từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, số của từng tài liệu được đặt độc lập trong từng ngoặc vuông, theo thứ tự tăng dần, ví dụ [15], [21]
- Tài liệu khai thác trực tuyến (trên mạng): phần nguồn gốc tài liệu phải ghi đường dẫn tới địa chỉ của văn bản trích dẫn (tên tệp có phần mở rộng là .html hoặc .doc hoặc .pdf) và ngày tháng năm khai thác tài liệu).
8. Trình bày bảng biểu, hình vẽ, phương trình:
- Việc đánh số bảng biểu, hình vẽ, phương trình phải gắn với số chương: ví dụ hình 3.2 có nghĩa là hình thức 2 trong chương 3. Mọi đồ thị, bảng biểu lấy từ các nguồn khác phải được trích dẫn đầy đủ. Nguồn được trích dẫn phải được liệt kê chính xác trong danh mục Tài liệu tham khảo. Đầu đề của bảng biểu ghi phía trên bảng, đầu đề của hình vẽ ghi phía dưới hình. Thông thường, những bảng ngắn và đồ thị phải đi liền với phần nội dung đề cập tới các bảng và đồ thị này ở lần thứ nhất. Các bảng dài có thể để ở những trang riêng nhưng cũng phải tiếp theo ngay phần nội dung đề cập tới bảng này ở lần đầu tiên.
- Việc trình bày phương trình toán học trên một dòng đơn hoặc dòng kép tùy ý, tuy nhiên phải thống nhất trong toàn KLTN. Khi ký hiệu xuất hiện lần đầu tiên phải giải thích và đơn vị tính phải đi kèm ngay trong phương trình có ký hiệu đó. Nếu cần thiết, danh mục của tất cả các ký hiệu, chữ viết tắt và nghĩa của chúng cần được liệt kê và để ở phần đầu của khóa luận. Tất cả các phương trình cần được đánh số và để trong ngoặc đơn đặt bên phía lề phải. Nếu một nhóm phương trình mang cùng một số thì những số này cũng được để trong ngoặc, hoặc mỗi phương trình trong nhóm phương trình có thể được đánh số, ví dụ: nhóm phương trình (3.1) gồm các phương trình (3.1.1), (3.1.2), (3.1.3).
